Bảng tổng hợp góp ý, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với dự thảo nghị quyết quy định mức hỗ trợ đối với người làm việc tại Trung tâm phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Có 49 cơ quan, đơn vị gửi văn bản ý kiến; không có ý kiến góp ý trên Cổng thông tin điện tử thành phố; cụ thể:

- 43 cơ quan, đơn vị có ý kiến thống nhất với hồ sơ dự thảo Nghị quyết: Sở Ngoại vụ (Công văn số 3542/SNV-VP ngày 12/8/2026); Sở Nông nghiệp và Môi trường (Công văn số 11382/SNNMT-VP ngày 14/8/2026); Sở Y tế (Công văn số 10852/SYT-VP ngày 13/8/2026); Thanh tra thành phố (Công văn số 2498/TTTP-VP ngày 14/8/2026); Phường An Khê (Công văn số 2136/UBND-TTPVHCC ngày 13/8/2026), phường Bàn Thạch (Công văn số 1987/UBND-TTPVHCC ngày 12/8/2026); phường Hải Châu (Công văn số 91/TTHCC-VP ngày 12/8/2026), phường Hòa Cường (Công văn số 3391/UBND-TTPVHCC ngày 19/8/2026); phường Hòa Khánh (Công văn số 5302/UBND-TTPVHCC ngày 13/8/2026); phường Hòa Xuân (Công văn số 2408/UBND-TTPVHCC ngày 14/8/2026); phường Liên Chiểu (Công văn số 2524/UBND-HCC ngày 12/8/2026); phường Ngũ Hành Sơn (Công văn số 4354/UBND-TTPVHCC ngày 14/8/2026); phường Quảng Phú (Công văn số 3266/UBND-TTPVHCC ngày 12/8/2026); phường Sơn Trà (Công văn số 345/TTPVHCC ngày 14/8/2026); phường Thanh Khê (Công văn số 3032/UBND-TTPVHCC ngày 15/8/2026); xã Avương (Công văn số 1950/UBND-HCC ngày 14/8/2026); xã Bến Giằng (Công văn số 1344/UBND-TTPVHCC ngày 14/8/2026); xã Đại Lộc (Công văn số 2985/UBND-TTPVHCC ngày 14/8/2026); xã Điện Bàn Tây (Công văn số 1831/UBND ngày 11/8/2026); xã Đông Giang (Công văn số 2962/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Duy Nghĩa (Công văn số 1819/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Duy Xuyên (Công văn số 2407/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Hiệp Đức (Công văn số 1160/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Hòa Vang (Công văn số 1836/UBND-HCC ngày 18/8/2026); xã Hùng Sơn (Công văn số 1615/UBND-HCC ngày 14/8/2026); xã La Dêê (Công văn số 541/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Nam Phước (Công văn số 2172/UBND-KT ngày 14/8/2026); xã Nam Trà My (Công văn số 1217/UBND-VP ngày 18/8/2026); xã Nông Sơn (Công văn số 837/UBND-HCC ngày 12/8/2026); xã Phước Chánh (Công văn số 859/UBND-TTPVHCC ngày 13/8/2026); xã Quế Sơn Trung (Văn bản số 707/BC-UBND ngày 13/8/2026); xã Quế Sơn (Công văn số 1265/UBND-HCC ngày 12/8/2026); xã Sông Kôn (Công văn số 1249/UBND-HCC ngày 14/8/2026); xã Tam Mỹ (Công văn số 939UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Tây Giang (Công văn số 2118/UBND-HCC ngày 14/8/2026); xã Thăng An (Công văn số 1825/UBND-HCC ngày 18/8/2026); xã Thăng Trường (Công văn số 1452/UBND-HCC ngày 12/8/2026); xã Thu Bồn (Công văn số 1152/UBND-HCC ngày 12/8/2026); xã Thượng Đức (Văn bản số 429/BC-UBND ngày 13/8/2026); xã Trà Đốc (Công văn số 1392/UBND-HCC ngày 18/8/2026); xã Trà Tân (Công văn số 1022/CV-UBND ngày 17/8/2026); xã Việt An (Công văn số 893/UBND-HCC ngày 13/8/2026); xã Bến Hiên (Công văn số 1706/UBND-HCC ngày 22/8/2026).

- 06 đơn vị có tham gia ý kiến góp ý: Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố; các Sở: Tài chính, Nội vụ, Khoa học và Công nghệ, phường Tam Kỳ, xã Trà Leng, xã Tân Hiệp.

 

STT

CHÍNH SÁCH HOẶC NHÓM VẤN ĐỀ, ĐIỀU, KHOẢN

CHỦ THỂ GÓP Ý

NỘI DUNG GÓP Ý

NỘI DUNG TIẾP THU, GIẢI TRÌNH

1

Sự cần thiết ban hành Nghị quyết

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố (Công văn số 1230/MTTQ-BTT ngày 19/8/2026)

1. Cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 80/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng (cũ) nhằm bảo đảm chính sách được thực hiện thống nhất trên địa bàn thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính; đồng thời cập nhật mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công theo quy định mới, khắc phục những bất cập về đối tượng, mức hỗ trợ và điều kiện thực hiện chính sách.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố

Điều 2. Đối tượng áp dụng

 

2. Về đối tượng áp dụng

Điều 2, dự thảo Quy định: Cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan ngành dọc (nếu có) được cấp có thẩm quyền cử đến thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công là đối tượng được hưởng chính sách. Đề nghị làm rõ cơ sở pháp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan Trung ương theo hệ thống ngành dọc. Đây cũng là nội dung được Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố đề nghị cơ quan soạn thảo phối hợp với các cơ quan liên quan làm rõ, nhưng dự thảo Tờ trình của UBND thành phố chưa thể hiện được nội dung này (tại Công văn số 343/HĐND-PC ngày 29/7/2026).

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố và giải trình như sau:

Việc dự thảo Nghị quyết có quy định đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công là đảm bảo đối tượng được quy định tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP. Cụ thể: theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP quy định “Đối với cơ quan của Trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương, người đứng đầu cơ quan ngành dọc quyết định tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả. Trường hợp người đứng đầu cơ quan ngành dọc không tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại cơ quan mình thì bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã nơi có cơ quan ngành dọc đặt trụ sở để tiếp nhận, giải quyết TTHC” và Khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP quy định người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã có cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến thực hiện nhiệm vụ.

Về tình hình thực tế, từ tháng 3/2025 đến 30/6/2026, Công an thành phố có bố trí cán bộ làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố để tiếp nhận, trả kết quả lĩnh vực lý lịch tư pháp. Từ ngày 01/7/2026, Công an thành phố đã rút cán bộ Công an về làm việc tại cơ quan Công an theo chủ trương của Bộ Công an. Hiện nay, tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố và cấp xã không có cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan Trung ương theo hệ thống ngành dọc cử đến làm việc.

Do đó, tiếp thu ý kiến của Thường trực HĐND thành phố, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố và một số cơ quan, đơn vị về rà soát đối tượng đảm bảo theo quy định và thực tiễn; Văn phòng đề xuất bỏ đối tượng áp dụng Nghị quyết là cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc trong dự thảo Nghị quyết để phù hợp người làm việc thực tế hiện nay tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố.

Khoản 1 Điều 3 về mức hỗ trợ hằng tháng

2. Về mức hỗ trợ hằng tháng

- Khoản 1, Điều 3, dự thảo Quy định: Mức hỗ trợ 2.000.000 đồng/người/tháng.

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố thống nhất về chủ trương điều chỉnh mức hỗ trợ từ 600.000 đồng/người/tháng theo Nghị quyết số 80/2016/NQ-HĐND lên mức phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ hiện nay. Tuy nhiên, mức đề xuất 2.000.000 đồng/người/tháng cao hơn 3,33 lần mức cũ, do đó đề nghị hồ sơ trình Hội đồng nhân dân thành phố cần bổ sung rõ hơn cơ sở định lượng để xác định mức hỗ trợ (như: Khối lượng hồ sơ và số lượt người dân, doanh nghiệp giao dịch tại Trung tâm; mức độ phức tạp của TTHC; tần suất làm việc ngoài giờ hành chính; việc thực hiện dịch vụ công lưu động, tiếp nhận và trả kết quả tại nhà; yêu cầu về số hóa hồ sơ, hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến; số lượng cán bộ, công chức, viên chức thực tế làm việc trực tiếp tại Trung tâm; khả năng cân đối ngân sách thành phố), để bảo đảm tính thuyết phục và tính bền vững của chính sách.

- Bên cạnh đó, đề xuất mức hỗ trợ 2.000.000 đồng/người/tháng áp dụng cho chung cho cả 02 cấp (cấp tỉnh, cấp xã), đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung giải trình rõ hơn vấn đề này, nội dung này cũng được Thường trực HĐND thành phố đề nghị rà soát xây dựng mức hỗ trợ theo từng cấp phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối ngân sách (tại Công văn số 343/HĐND-PC ngày 29/7/2026).

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố nhận thấy tính chất, cường độ và yêu cầu phục vụ người dân giữa Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp thành phố và cấp xã; giữa Trung tâm Phục vụ hành chính công các xã, phường có sự khác biệt đáng kể về khối lượng và tính chất công việc, do đó, cần nghiên cứu mức hỗ trợ tương ứng với từng cấp, từng địa phương theo diện tích, quy mô dân số phù hợp với yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm phân bổ nguồn lực công bằng, hợp lý, gắn với khối lượng nhiệm vụ thực tế của từng địa phương (theo Nghị định số 307/2025/NĐ-CP, ngày 27/11/2025 của Chính phủ về Phân loại đơn vị hành chính).

- Văn phòng tiếp thu ý kiến của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố và đã bổ sung, làm rõ số liệu về: khối lượng hồ sơ giao dịch tại Trung tâm; mức độ phức tạp của TTHC; tần suất làm việc ngoài giờ hành chính; việc thực hiện dịch vụ công lưu động, tiếp nhận và trả kết quả tại nhà; yêu cầu về số hóa hồ sơ, hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến; số lượng cán bộ, công chức, viên chức thực tế làm việc trực tiếp tại Trung tâm... trong dự thảo Tờ trình Nghị quyết.

- Về áp dụng chung mức hỗ trợ, Văn phòng đề xuất giữ nguyên phương án áp dụng chung mức hỗ trợ cho cả 02 cấp (thành phố và cấp xã) như dự thảo, không phân loại, xây dựng mức hỗ trợ riêng theo từng cấp. Lý do: (1) Nghị quyết số 80/2016/NQ-HĐND hiện hành không phân loại mức hỗ trợ riêng theo từng cấp. (2) Hiện nay, UBND thành phố đã phê duyệt danh mục 100% TTHC thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên địa bàn thành phố, tức là Trung tâm cấp xã không chỉ tiếp nhận hồ sơ của xã, phường mình mà có thể nhận hồ sơ của sở, ban, ngành và của xã phường khác; do đó áp lực, trách nhiệm và yêu cầu chuyên môn của người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tương đồng giữa các cấp, các địa phương. (3) Mặc dù quy mô dân số, diện tích, số lượng hồ sơ giữa cấp thành phố với cấp xã, cũng như giữa các xã, phường có sự khác nhau, khu vực đô thị, đồng bằng thường có số lượng hồ sơ nhiều hơn so với khu vực miền núi, tuy nhiên mức độ sử dụng công nghệ thông tin của người dân ở miền núi còn nhiều hạn chế hơn đồng bằng, chủ yếu nhờ cán bộ hỗ trợ thực hiện dịch vụ công, do đó sẽ vất vả hơn trong việc hướng dẫn, hỗ trợ; nhiều đơn vị khu vực miền núi điều kiện làm việc, đi lại, sinh hoạt còn nhiều khó khăn. (4) Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã là đầu mối trực tiếp, gần dân nhất, thực hiện tiếp nhận nhiều TTHC thiết yếu, thường xuyên phát sinh trong đời sống của người dân. Do đó, mặc dù số lượng tuyệt đối về hồ sơ tại một số địa phương có thể thấp hơn, nhưng cường độ giao tiếp, tính đa dạng của đối tượng phục vụ và yêu cầu hỗ trợ người dân trong thực hiện TTHC không vì vậy mà thấp hơn tương ứng. (5) Việc xác định mức hỗ trợ khác nhau căn cứ vào quy mô dân số, diện tích, số lượng hồ sơ của từng địa phương sẽ phát sinh khó khăn trong tổ chức thực hiện, tạo ra chênh lệch về chế độ giữa những người thực hiện công việc có tính chất tương đồng; làm tăng tính phức tạp trong xác định đối tượng, theo dõi biến động khối lượng công việc, điều chỉnh mức hưởng và tổ chức thực hiện chính sách hằng năm. (6) Khối lượng hồ sơ có thể biến động theo từng thời kỳ, từng lĩnh vực và không hoàn toàn tỷ lệ thuận với dân số, diện tích của đơn vị hành chính, phân loại đơn vị hành chính cấp xã loại 1, 2, 3 theo Nghị định số 307/2025/NĐ-CP ngày 27/11/2025 của Chính phủ, Quyết định số 1827/QĐ-UBND ngày 24/4/2026 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng; theo thống kê trong 07 tháng đầu năm 2026, một số địa phương loại III nhưng khối lượng hồ sơ TTHC tiếp nhận, xử lý nhiều hơn đơn vị loại I, loại II, như: đơn vị loại III (Đồng Dương 5.721 hồ sơ, Tam Hải 2.345, Thăng Phú 2.296 hồ sơ) nhiều hơn một số đơn vị loại I (Phước Trà 1.549 hồ sơ, Thượng Đức 2.092 hồ sơ, Trà Đốc 1.665 hồ sơ, La Dêê 887 hồ sơ, Đắc Pring 603 hồ sơ, La Êê 876 hồ sơ).

Do đó, việc áp dụng một mức hỗ trợ thống nhất sẽ bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, ổn định, thuận lợi trong tổ chức thực hiện và tạo sự đồng bộ về chính sách đối với đội ngũ trực tiếp phục vụ người dân, doanh nghiệp trên toàn thành phố.

- Về mức hỗ trợ hằng tháng: tiếp thu ý kiến của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố về rà soát mức hỗ trợ phù hợp; qua rà soát chính sách tương tự của các tỉnh, thành phố và chính sách tương đồng hỗ trợ cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, Văn phòng đề xuất giữ nguyên phương án mức hỗ trợ hằng tháng 2.000.000 đồng; mức hỗ trợ này bằng với tỉnh Quảng Ninh (đã áp dụng từ cuối năm 2016), tỉnh Bình Dương cũ (áp dụng từ năm 2024) và Thành phố Hồ Chí Minh; thấp hơn của Thành phố Hà Nội (5.000.000 đồng), bằng 75% so với mức bồi dưỡng hiện hành cho cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân trên địa bàn thành phố.

Khoản 2 Điều 3 về hỗ trợ may đồng phục

4. Về hỗ trợ may đồng phục

Khoản 2, Điều 3 dự thảo Quy định: Các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này được hỗ trợ may đồng phục: 5.000.000 đồng/người/năm.

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố thống nhất với việc bổ sung chính sách hỗ trợ trang phục, vì theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công hiện nay, yêu cầu về tác phong, hình ảnh, tính chuyên nghiệp và thống nhất trong phục vụ Nhân dân ngày càng cao.

Tuy nhiên, Điều 3 dự thảo quy định “hỗ trợ may đồng phục 5.000.000 đồng/người/năm”, trong khi Điều 4 dự thảo lại quy định Trung tâm được bố trí kinh phí để “trang bị đồng phục”. Hai quy định này cần được làm rõ về phương thức thực hiện. Đề nghị cơ quan soạn thảo cần thống nhất phương thức thực hiện theo hướng:

Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã tổ chức trang bị đồng phục tập trung theo mẫu thống nhất, bảo đảm đồng bộ, chuyên nghiệp; kinh phí được bố trí trong dự toán hằng năm theo quy định.

Văn phòng UBND thành phố tiếp thu ý kiến của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, bổ sung làm rõ phương thức thực hiện tại khoản 2 Điều 4 dự thảo Nghị quyết như sau: Kinh phí hỗ trợ may đồng phục cho các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã để đảm bảo trang bị đồng phục thống nhất, chuyên nghiệp và lịch sự theo phạm vi quản lý”.

Sau khi Nghị quyết được HĐND thành phố xem xét thông qua, Văn phòng UBND thành phố sẽ tham mưu UBND thành phố có văn bản hướng dẫn các đơn vị để tổ chức trang bị đồng phục tập trung theo mẫu thống nhất, bảo đảm đồng bộ, chuyên nghiệp.

2

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh;

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Sở Tài chính (Công văn số 11422/STC-HCSN ngày 19/8/2026)

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Đề nghị cơ quan soạn thảo căn cứ quy định tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 367/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 và số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026) để rà soát phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương làm cơ sở để cấp thẩm quyền xem xét, quyết định; trong đó, đề xuất đối tượng được chi hỗ trợ hàng tháng đảm bảo công bằng về thu nhập của CBCCVC, người lao động tại cùng 01 cơ quan, đơn vị.

Mặt khác, qua tham khảo quy định của một số địa phương về mức hỗ trợ đối với người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp thì đối tượng áp dụng đối với hỗ trợ hằng tháng cho CBCCVC, người lao động thuộc Trung tâm HCC các cấp là những người trực tiếp tham gia hỗ trợ, hướng dẫn, xử lý, kiểm tra, giám sát trong giải quyết TTHC theo Đề án vị trí việc làm được phê duyệt. Do đó, Sở Tài chính đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, sửa đổi theo hướng nêu trên nhằm đảm bảo việc đề xuất chính sách phù hợp với đối tượng thụ hưởng và khả năng cân đối ngân sách thực hiện sau khi ban hành chính sách.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Tài chính và giải trình như sau:

Căn cứ Khoản 3 Điều 3, Điều 8 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp:“Bộ phận Một cửa là tên gọi chung của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp bộ, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân”. Phạm vi, đối tượng trong dự thảo Nghị quyết được Văn phòng rà soát, xây dựng đảm bảo đúng đối tượng thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp theo quy định tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP; theo đó, các đối tượng được hỗ trợ là những người trực tiếp tham gia hỗ trợ, hướng dẫn, tiếp nhận, xử lý, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố.

Liên quan đến đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công: Được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP "Đối với cơ quan của Trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương, người đứng đầu cơ quan ngành dọc quyết định tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả. Trường hợp người đứng đầu cơ quan ngành dọc không tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại cơ quan mình thì bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã nơi có cơ quan ngành dọc đặt trụ sở để tiếp nhận, giải quyết TTHC”; khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP quy định người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã có cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến thực hiện nhiệm vụ.

Về thực tế, từ tháng 3/2025 đến 30/6/2026, Công an thành phố có bố trí cán bộ làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố để tiếp nhận, trả kết quả lĩnh vực lý lịch tư pháp. Từ ngày 01/7/2026, Công an thành phố đã rút cán bộ Công an về làm việc tại cơ quan Công an theo chủ trương của Bộ Công an. Hiện nay, tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố và cấp xã không có cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan Trung ương theo hệ thống ngành dọc cử đến làm việc.

Do đó, tiếp thu ý kiến của Sở Tài chính; Văn phòng điều chỉnh dự thảo theo hướng bỏ đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến trong dự thảo Nghị quyết để phù hợp thực tiễn đối tượng làm việc tại Trung tâm các cấp hiện nay.

 

2. Về nội dung và mức chi hỗ trợ

a) Tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị quyết đề xuất quy định hỗ trợ hằng tháng là “2.000.000 đồng/người/tháng. Mức hỗ trợ này không dùng để tính đóng, hưởng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế”

Theo thuyết minh hồ sơ thì mức chi hỗ trợ 600.000 đồng/tháng/người theo Nghị quyết số 80/2016/NQ-HĐND áp dụng từ năm 2017, hiện nay không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống, áp lực công việc ngày càng cao của công tác cải cách TTHC, hiện đại hóa nền hành chính theo chỉ đạo của Trung ương và thành phố; cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp với đặc thù thường xuyên tiếp công dân để hướng dẫn, tiếp nhận, xử lý hồ sơ, trả kết quả, hỗ trợ công dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến, số hóa hồ sơ... Nhiều Trung tâm Phục vụ hành chính công trên địa bàn thành phố thường xuyên triển khai làm việc thêm ngoài giờ hành chính, dịch vụ công lưu động, hỗ trợ tiếp nhận và trả kết quả tại nhà để kịp thời xử lý, giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại dự thảo Tờ trình chưa đánh giá tổng nhu cầu kinh phí trước và sau khi đề xuất tăng từ 600.000 đồng/tháng/người lên 2.000.000 đồng/người/tháng từ thời điểm sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Do đó, Sở Tài chính đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung nội dung này vào hồ sơ dự thảo kèm theo bảng so sánh mức chi hỗ trợ này của các địa phương để có sự tương quan; đồng thời đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu đề xuất lại mức hỗ trợ hằng tháng theo hướng giảm so với mức 2.000.000 đồng/người/tháng nhằm đảm bảo tính khả thi của chính sách và phù hợp khả năng cân đối ngân sách thành phố hiện nay như đã nêu trên.

b) Tại khoản 2 Điều 3 của dự thảo Nghị quyết đề xuất quy định hỗ trợ may đồng phục là “5.000.000 đồng/người/năm. Mức hỗ trợ này không áp dụng đối với các đối tượng đã được cấp trang phục riêng của ngành”

Sở Tài chính nhận thấy cơ quan soạn thảo đề xuất mức hỗ trợ may đồng phục là phù hợp với quyền lợi của người làm việc tại Bộ phận Một cửa được quy định tại Điều 11 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, để đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách hiện nay thì Sở Tài chính đề nghị mức hỗ trợ là 3.000.000 đồng/người/năm.

- Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Tài chính, đã bổ sung đánh giá nhu cầu kinh phí trước và sau khi đề xuất tăng từ 600.000 đồng/tháng/người lên 2.000.000 đồng/người/tháng từ thời điểm sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh trong dự thảo Tờ trình kèm bảng so sánh mức chi hỗ trợ này của các địa phương.

- Về mức hỗ trợ hằng tháng: Qua rà soát chính sách tương đồng của các tỉnh, thành phố và chính sách hỗ trợ cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, Văn phòng đề xuất giữ nguyên phương án mức hỗ trợ hằng tháng 2.000.000 đồng; mức hỗ trợ này bằng với tỉnh Quảng Ninh (đã áp dụng từ cuối năm 2016), tỉnh Bình Dương cũ (áp dụng từ năm 2024) và Thành phố Hồ Chí Minh; thấp hơn của Thành phố Hà Nội (5.000.000 đồng), bằng 75% so với mức bồi dưỡng hiện hành cho cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân trên địa bàn thành phố.

- Về mức hỗ trợ may đồng phục: Để đảm bảo cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên mặc đồng phục thường xuyên trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, cần thiết trang bị ít nhất 02 bộ đồng phục vào xuân hè/người/năm và 01 bộ đồng phục thu đông/người/năm; qua khảo sát giá thị trường hiện nay thì mức hỗ trợ 5.000.000 đồng/người/năm là phù hợp; trường hợp mức hỗ trợ thấp hơn sẽ khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Do đó, Văn phòng đề xuất giữ nguyên phương án mức hỗ trợ may đồng phục với mức 5.000.000 đồng/người/năm. Mức hỗ trợ này tương đương với hỗ trợ của thành phố Hà Nội, tỉnh Bình Dương cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

 

3. Về nguồn kinh phí thực hiện

Trên cơ sở rà soát và điều chỉnh lại đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2, Sở Tài chính đề nghị cơ quan soạn thảo điều chỉnh lại nội dung Điều 4 dự thảo Nghị quyết như sau:

“1. Kinh phí hỗ trợ hàng tháng được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo phân cấp hiện hành.

2. Kinh phí hỗ trợ may đồng phục cho các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã để đảm bảo thống nhất, chuyên nghiệp và lịch sự theo phạm vi quản lý.”.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Tài chính và đã bổ sung, điều chỉnh trong dự thảo Nghị quyết

3

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Sở Nội vụ (Công văn số 7902/SNV-CCHC&VTLT ngày 18/8/2026)

1. Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh:

Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, thống nhất cách sử dụng thuật ngữ giữa tên gọi Nghị quyết, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; bảo đảm xác định rõ người được hưởng hỗ trợ phải là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công. Đồng thời, đề nghị rà soát đối với trường hợp cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan, đơn vị được cử đến thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm nhưng chỉ thực hiện nhiệm vụ trong một số ngày hoặc một số buổi trong tuần để có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về điều kiện, thời gian thực tế làm việc để làm căn cứ hưởng mức hỗ trợ tương ứng, đảm bảo công bằng, tránh phát sinh cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các đơn vị.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Nội vụ và đã điều chỉnh sử dụng thống nhất cụm từ “Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố và cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” để đúng với mô hình hiện nay.

Đối tượng trong dự thảo Nghị quyết được Văn phòng rà soát, xây dựng đảm bảo đúng đối tượng thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp theo quy định tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP; các đối tượng được hỗ trợ là những người trực tiếp tham gia hỗ trợ, hướng dẫn, tiếp nhận, xử lý, kiểm tra, giám sát trong giải quyết TTHC tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố theo từng công đoạn, quy trình, công việc cụ thể.

Căn cứ khoản 4 Điều 11 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP quy định “Người đứng đầu cơ quan quản lý nhân sự được cử quyết định thời hạn thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức được cử đến Bộ phận Một cửa không ít hơn 12 tháng và không nhiều hơn 36 tháng mỗi đợt; trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 12 Nghị định này”; Khoản 8 Điều 12 Nghị định 118/2025/NĐ-CP yêu cầu “…bảo đảm việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ được thực hiện liên tục, không bị gián đoạn”. Dó đó, để đảm bảo việc hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả TTHC, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp đòi hỏi người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phải làm việc trực tiếp, thường xuyên, liên tục, thời gian làm việc phải đảm bảo theo quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, quy định của UBND thành phố và nội quy, quy chế làm việc của Trung tâm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

2. Về đối tượng áp dụng

Sở Nội vụ đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát và làm rõ:

- Đối tượng "nhân viên" được quy định tại phần căn cứ, nội dung dự thảo nhưng cần xác định rõ phạm vi, loại hợp đồng và nguồn chi trả để bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Nội vụ và giải trình như sau:

Đối tượng nhân viên đã được quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP “nhân viên theo hợp đồng lao động được ký kết theo quy định của pháp luật”.

Theo khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, quy định người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã có đối tượng “nhân viên” thuộc quản lý của Trung tâm để thực hiện nhiệm vụ. Do đó, việc ghi đối tượng “nhân viên” trong dự thảo Nghị quyết là phù hợp với quy định tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP; kinh phí hỗ trợ cho các đối tượng (bao gồm nhân viên) được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của các đơn vị, địa phương theo phân cấp hiện hành.

Điều 3. Mức hỗ trợ

3. Về mức hỗ trợ

- Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung nội dung quy định làm rõ nguyên tắc, điều kiện được hưởng mức hỗ trợ như: Nhân sự đảm bảo thời gian công tác tối thiểu theo quy định; được cấp có thẩm quyền phân công thực hiện nhiệm vụ bằng văn bản; được hưởng mức hỗ trợ trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ hay trên cơ sở được phân công nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền; hưởng hỗ trợ hằng tháng hay theo thời gian làm việc thực tế…

- Đề nghị cân nhắc bổ sung nội dung làm rõ mức hỗ trợ trong một số trường hợp như: Người làm việc tại TTPVHCC không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc có mức độ hài lòng thấp; nhân sự dự phòng hoặc được cử thay thế thực hiện nhiệm vụ hoặc làm việc luân phiên để không bị gián đoạn trong trường hợp người làm việc tại TTPVHCC vắng mặt vì các lý do như: nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ ốm, nghỉ việc riêng, đi học, đi công tác…

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Nội vụ và bổ sung quy định về điều kiện hỗ trợ trong dự thảo Nghị quyết, theo hướng:“Điều kiện hỗ trợ: Cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính khác thuộc UBND thành phố, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã phải có quyết định bổ nhiệm hoặc có văn bản điều động, luân chuyển, biệt phái, phân công, giao nhiệm vụ của Thủ trưởng cơ quan hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách cử đến làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công theo Điều 8 Thông tư số 03/2025/TT-VPCP ngày 15/9/2025 của Văn phòng Chính phủ; thời gian, thời hạn làm việc phải đảm bảo theo quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ, quy định của cấp có thẩm quyền”. Như vậy, việc hỗ trợ được xác định trên cơ sở thời gian làm việc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp.

Chính sách hỗ trợ người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp nhằm động viên, khích lệ, tạo động lực trên cơ sở thời gian làm việc tại Trung tâm. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức được cử không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có mức độ hài lòng thấp, đơn vị chủ trì có trách nhiệm cử người khác thay thế theo đề nghị của Trung tâm Phục vụ hành chính công theo quy định tại khoản 8 Điều 12 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP. Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 12 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP cũng quy định cụ thể việc cử nhân sự dự phòng, nhân sự thay thế trong trường hợp nhân sự được cử vắng mặt vì lý do nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ việc riêng, đi học, đi công tác... làm cơ sở cho cơ quan, đơn vị chi hỗ trợ cho các đối tượng theo quy định.

4

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Sở Khoa học và Công nghệ (Công văn số 5565/SKHCN-VP ngày 13/8/2026)

Từ tháng 7 năm 2014, thực hiện Công văn số 5118/UBND-QLĐTư ngày 16/6/2014 của UBND thành phố về việc chỉ đạo phương án bố trí hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị làm việc tại Trung tâm hành chính thành phố và Công văn số 1282/SNV-CCHC ngày 25/6/2014 của Sở Nội vụ, Trung tâm Thông tin và giám sát điều hành thông minh Đà Nẵng đã thực hiện bố trí viên chức làm nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn tại bộ phận một cửa tập trung thành phố (từ ngày 01/7/2025 là Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố).

Do vậy, đề xuất bổ sung thêm đối tượng áp dụng chính sách hỗ trợ bao gồm viên chức Trung tâm Thông tin và giám sát điều hành thông minh Đà Nẵng được phân công thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của Sở Khoa học và Công nghệ và giải trình như sau:

Tại dự thảo Nghị quyết gửi lấy ý kiến có quy định đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố được cử đến thực hiện nhiệm vụ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công; như vậy đã bao gồm cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị thuộc, trực thuộc của cơ quan chuyên môn, trong đó có Trung tâm Thông tin và giám sát điều hành thông minh Đà Nẵng là đơn vị trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.

5

Khoản 1 Điều 3. Mức hỗ trợ hằng tháng

Phường Tam Kỳ (Công văn số 2232/UBND-VHXH ngày 14/8/2026)

Đề xuất xem xét, bổ sung điều khoản liên quan đến mức hỗ trợ hằng tháng tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị quyết quy định mức hỗ trợ đối với người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cụ thể: “Trường hợp thời gian thực hiện nhiệm vụ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công không đủ một tháng thì mức chi hỗ trợ tính theo mức hỗ trợ của một tháng chia cho 22 ngày nhân với thời gian thực tế thực hiện nhiệm vụ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công”.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND phường Tam Kỳ và giải trình như sau:

Văn phòng bổ sung nội dung về điều kiện hỗ trợ trong dự thảo Nghị quyết, trong đó có nêu thời gian, thời hạn làm việc phải đảm bảo theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ, quy định của cấp có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 12 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc cử nhân sự dự phòng, nhân sự thay thế trong trường hợp nhân sự được cử vắng mặt vì lý do nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ việc riêng, đi học, đi công tác... làm cơ sở cho cơ quan, đơn vị chi hỗ trợ cho các đối tượng. Chính sách hỗ trợ áp dụng đối với các đối tượng làm việc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, do đó đơn vị căn cứ thời gian làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên để chi hỗ trợ.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh;

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Xã Trà Leng (Công văn số 65/UBND ngày 19/8/2026)

1. Về đối tượng được hưởng hỗ trợ: Cần quy định rõ đối tượng áp dụng, phạm vi người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp, bảo đảm bao quát đầy đủ các trường hợp thực tế đang thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm và tránh phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình triển khai.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Trà Leng và giải trình như sau:

Việc quy định phạm vi, đối tượng áp dụng trong dự thảo Nghị quyết gửi lấy ý kiến góp ý đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP. Đồng thời bổ sung thêm quy định về điều kiện hỗ trợ để làm rõ, tạo thuận lợi trong việc xác định đối tượng để chi hỗ trợ.

Về tình hình thực tế, từ tháng 3/2025 đến 30/6/2026, Công an thành phố có bố trí cán bộ làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố để tiếp nhận, trả kết quả lĩnh vực lý lịch tư pháp. Từ ngày 01/7/2026, Công an thành phố đã rút cán bộ Công an về làm việc tại cơ quan Công an theo chủ trương của Bộ Công an. Hiện nay, tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố và cấp xã không có cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan Trung ương theo hệ thống ngành dọc cử đến làm việc.

Do đó, đề xuất bỏ đối tượng áp dụng Nghị quyết là cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan thuộc ngành dọc trong dự thảo Nghị quyết để phù hợp người làm việc thực tế hiện nay tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn thành phố.

Điều 3. Mức hỗ trợ

2. Về mức hỗ trợ: Đề nghị nghiên cứu mức hỗ trợ phù hợp với tính chất, khối lượng và áp lực công việc tại Trung tâm; bảo đảm tương xứng với yêu cầu phục vụ thường xuyên, trực tiếp người dân, doanh nghiệp và yêu cầu nâng cao chất lượng giải quyết TTHC.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Trà Leng và giải trình như sau:

Mức hỗ trợ đề xuất trong dự thảo Nghị quyết gửi lấy ý kiến đã được Văn phòng nghiên cứu, rà soát kỹ các quy định pháp luật, chính sách tương tự, tương đồng trên địa bàn thành phố và của các tỉnh, thành phố khác.

 

3. Về thời gian và điều kiện hưởng hỗ trợ: Đề nghị quy định cụ thể thời gian làm việc, trường hợp nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, đi học, biệt phái hoặc các trường hợp không trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm để làm cơ sở chi trả thống nhất, công khai và minh bạch.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Trà Leng. Văn phòng bổ sung nội dung về điều kiện hỗ trợ, trong đó có nêu thời gian, thời hạn làm việc phải đảm bảo theo quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ, quy định của cấp có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 12 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc cử nhân sự dự phòng, nhân sự thay thế trong trường hợp nhân sự được cử vắng mặt vì lý do nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ việc riêng, đi học, đi công tác... làm cơ sở cho cơ quan, đơn vị chi hỗ trợ cho các đối tượng này.

Điều 4. Nguồn kinh phí chi hỗ trợ

4. Về nguồn kinh phí: Đề nghị xác định rõ nguồn kinh phí thực hiện, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc lập dự toán, quản lý và thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ theo đúng quy định.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Trà Leng. Nội dung này, Văn phòng đã điều chỉnh cùng với ý kiến của Sở Tài chính.

Điều 6. Tổ chức thực hiện

5. Về tổ chức thực hiện: Đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc rà soát đối tượng, lập danh sách và thực hiện chi trả; đồng thời có hướng dẫn thống nhất để bảo đảm việc triển khai Nghị quyết đồng bộ trên địa bàn thành phố.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Trà Leng và giải trình như sau:

Tại Điều 4 dự thảo Nghị quyết có quy định cụ thể kinh phí hỗ trợ hằng tháng được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo phân cấp hiện hành. Kinh phí hỗ trợ may đồng phục cho các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã để đảm bảo thống nhất, chuyên nghiệp và lịch sự theo phạm vi quản lý.

Tại khoản 1 Điều 6 dự thảo Nghị quyết có giao Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức triển khai, thực hiện Nghị quyết theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi Nghị quyết được thông qua, Văn phòng sẽ chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND thành phố có văn bản triển khai Nghị quyết trên địa bàn thành phố.

6

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Xã Tân Hiệp (Công văn số 789/UBND ngày 12/8/2026)

1. Về đối tượng áp dụng:

Tại Khoản 1, Điều 2 dự thảo Nghị quyết quy định: “Cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính khác thuộc UBND thành phố, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã, cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) được cấp có thẩm quyền cử đến thực hiện nhiệm vụ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố, Trung tâm phục vụ hành chính công các xã, phường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”.

Trên thực tế, ngoài đối tượng cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan chuyên môn được UBND cấp xã cử đến làm việc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, còn có cán bộ, công chức, viên chức thực hiện chế độ kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo và Kế toán Trung tâm. Các đối tượng này hiện nay chưa có quy định để hưởng chế độ phụ cấp kiêm nhiệm nhưng vẫn thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước UBND và Chủ tịch UBND cấp xã. Vì vậy, để đảm bảo tính công bằng, khích lệ tinh thần trách nhiệm, UBND xã để nghị bổ sung cán bộ, công chức, viên chức thực hiện chế độ kiêm nhiệm tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã trong Khoản 1, Điều 2 của dự thảo Nghị quyết.

Văn phòng tiếp thu ý kiến của UBND xã Tân Hiệp và giải trình như sau:

Các đối tượng được quy định trong dự thảo Nghị quyết gửi lấy ý kiến được quy định tại khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP. Trường hợp địa phương có cán bộ thực hiện kiêm nhiệm một số nhiệm vụ nhưng không thuộc người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công được quy định tại khoản 2, 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP thì không đủ điều kiện hỗ trợ.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP được sửa đổi tại Nghị định số 309/2026/NĐ-CP, Nghị quyết số 332/NQ-CP ngày 15/10/2025 của Chính phủ, Lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã gồm Giám đốc tương đương Trưởng phòng, không quá 02 Phó Giám đốc tương đương Phó Trưởng phòng thuộc UBND cấp xã; Phó Chủ tịch UBND cấp xã không kiêm Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã.

 

 

Điều 3. Mức hỗ trợ

2. Mức hỗ trợ:

Kính đề nghị cơ quan dự thảo Nghị quyết xem xét nâng mức hỗ trợ từ 2.000.000 đồng/tháng lên mức 3.000.000 đồng/tháng.

Văn phòng ghi nhận ý kiến của UBND xã Tân Hiệp.

Mức hỗ trợ đề xuất trong dự thảo Nghị quyết gửi lấy ý kiến đã được Văn phòng nghiên cứu, rà soát kỹ trên cơ sở các quy định pháp luật, chính sách tương tự, tương đồng trên địa bàn thành phố và của các tỉnh, thành phố khác.

 

 

Thông báo

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Thông báo về việc cho thuê nhà do Trung tâm Quản lý và Khai thác nhà Đà Nẵng quản lý, khai thác

Lịch công tác tuần 24 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Lịch công tác tuần 25 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Lịch công tác tuần 26 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Lịch công tác tuần 27 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Lịch công tác tuần 30 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Lịch công tác tuần 28 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Thông báo lịch tiếp công dân tháng 6 của Chủ tịch HĐND thành phố Đà Nẵng

Lịch công tác tuần 29 năm 2026 của Lãnh đạo UBND thành phố

Thông báo tiếp nhận Hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư dự án Nhà máy chế biến gỗ tại lô CN11, Cụm công nghiệp Đại Nghĩa 2, xã Đại Lộc

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu