Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887)

Nguyễn Duy Hiệu hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, 3 năm sau đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).

Năm 1882, được sung chức phụ đạo giảng tập hoàng tử Ưng Đăng (sau này là vua Kiến Phước), được triều đình phong hàm Hồng lô tự khanh. Hưởng ứng hịch Cần vương, ông đã cùng với Chánh sơn phòng sứ Trần Văn Dư và Phan Bá Phiến đứng ra thành lập Nghĩa hội Quảng Nam. Sau khi Hội chủ Trần Văn Dư thọ nạn, Nguyễn Duy Hiệu đứng ra điều hành công việc kháng chiến. Ông đã chọn Trung Lộc để lập Tân Tỉnh, nơi đặt bản doanh của lực lượng Nghĩa hội.

Bọn thực dân và chính quyền tay sai đã tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, quyết tiêu diệt lực lượng Nghĩa hội. Chúng tập trung hơn 600 quân gồm lính khố đỏ của Pháp và lính của Nam triều, được trang bị vũ khí hiện đại, bao vây căn cứ Trung Lộc. Trong tình thế bức bách, nghĩa quân phải bỏ Tân Tỉnh, rút về vùng núi phía tây. Quân địch tiếp tục truy kích ráo riết, sau nhiều trận đánh, lực lượng nghĩa quân bị tiêu hao nặng và tan rã.

Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến cùng một số thuộc hạ thoát khỏi vòng vây, từ rừng núi Phước Sơn chạy về phía biển ở cửa An Hòa, định tìm thuyền vượt biển ra ẩn náu ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến.

Trong lúc thế cùng lực kiệt, ông bàn với Phan Bá Phiến giải tán lực lượng nghĩa quân, nhằm bảo toàn tổ chức và nhân sự còn lại, để lớp người sau sẽ tìm con đường cứu nước có hiệu quả hơn. Sau khi chứng kiến người đồng chí thân thiết Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự tử, ông về lại nơi cố hương, rồi báo cho giặc đến bắt. Trước kẻ thù, ông tự nhận mọi trách nhiệm về mình, còn việc người này người khác hưởng ứng theo Nghĩa hội là do bị ông ép buộc. Chỉ cần giết một mình ông là đủ.

Ông bị xử chém tại pháp trường An Hòa, gần Huế rạng ngày 1-10-1887. Trước khi chết, ông đã để lại 2 bài thơ tuyệt mệnh đầy khí phách. Sau đây là hai câu cuối của bài thơ thứ nhất:

Ký ngữ phù trầm tư thế giả?
Hưu tương thành bại luận anh hùng!
Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Chìm nổi trên đời ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng!

Khâm sứ Trung Kỳ lúc đó là L.J. Baille đã viết về Nguyễn Duy Hiệu sau cái chết của ông: “Con người này có một nghị lực phi thường… một anh hùng kỳ dị…”.

Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Nguyễn Duy Hiệu dài 660m, rộng 6m, nối đường Ngô Quyền đến nhà thờ Gia Phước, phường An Hải Đông, quận Sơn Trà.

Cổng TTĐT thành phố
 

Danh nhân

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)

Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)

Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.

Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)

Tên thật là Nguyễn Văn Chương, quê làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, còn tên Nguyễn Tri Phương do vua Tự Đức cải tên (1850), hàm ý nói về con người nghĩa dũng, nhiều mưu chước. Từ đó, Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Xuất thân trong một gia đình nông dân, không được qua trường lớp, nhưng nhờ trí thông minh và ý chí tự học, tự lập cao, đã làm nên sự nghiệp lớn. Bắt đầu từ chân thơ lại ở cấp huyện, do tài năng mà được tiến cử lên triều đình Minh Mạng, được thu dụng và lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông Ích Đường (1890-1908)

Ông sinh tại làng Phong Lệ, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Phường Hoà Thọ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).Ông là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Ông Ích Đường là người giỏi văn võ, có chí lớn, có tính phóng khoáng, có đức độ bậc trượng phu, thường binh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào ác bá.

Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng

Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)

Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.

Ông Ích Khiêm (1831-1884)

Hiệu là Mạc Chi, sinh năm Tân Mão (1831) ở làng Phong Lệ, nay là xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Năm 16 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14 trong 116 vị tân khoa (1847), được bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm Tri huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là người tài kiêm văn võ, từng làm đến Tiễu phủ sứ, nên dân địa phương thường gọi ông là "ông Tiểu Phong Lệ" và được phong tước hiệu Kiên dũng nam. Tính khí khái, cương trực, ghét thói xu phụ nên nhiều lần bị giáng chức, rồi được phục hội, lại bị giáng, lại phục hội,…

Hoàng Diệu (1828 - 1882)

Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu