Đỗ Quang (1807 - 1866)
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, trong 02 năm đầu của cuộc kháng chiến ông sát cánh cùng nguyên soái Trương Định dồn lương, đúc súng, phát triển lực lượng chống Pháp ở Gò Công, Gia Định, Chợ lớn. Giữ lúc cuộc kháng chiến đang dâng cao triều đình triệu hồi ông về kinh làm Tham tri Bộ Hộ, xung chức tuần phủ Nam Định. Ông uất ức không chấp hành mệnh lệnh triều đình và dâng sớ từ quan. Trong sớ có đoạn " trộm nghĩ tôi tầm thường kém cỏi không có tài cán gì, nhưng lâu nay quanh quẩn với dân vốn không nghĩ đến ngày được sống trở về, nay tôi được gọi về còn ý nghĩa gì ... như thế là tôi trên phụ Triều đình dưới phụ trăm họ tội đã rõ ràng không thể chối cãi, nếu nay tôi lại được nhận chức ở địa phương Nam Định biết nói sao đây, đối với công luận thiên hạ biết nói thế nào. Tôi còn chút làm người biết xấu hổ nên cúi đầu xin thu hồi lệnh đã ban bãi chức cho tôi được trở về với vườn ruộng để cho hả cái nỗi phẫn uất của nhân dân, để cho giữ được cái tiết liêm sỉ của hàng thần".
Sự nghiệp xuất chúng của ông thể hiện trong một số lĩnh vực như: nêu gương sáng về sự hiếu học. Về giáo dục ông được triều đình giao trọng trách phúc khảo thi hương, duyệt quyển thi đình, chủ khảo trường thi hương, kinh diên giảng nhật quan (Chức quan lo việc giảng kinh sách cho vua và các quan) được giao biên soạn sách, giữ chức Biên tu ở viện Hàn Lâm, làm Quản tu Quốc Tử Giám, là một trong các tác giả của 02 bộ sách Đại Nam Thực lục Tiền biên và Ngọc điệp và nhiều bài thơ hay lưu truyền cho hậu thế, 09 lần được cử đi trông thi các kỳ thi hương, thi hội, thi đình. Về chính trị ông đã giữ nhiều trọng trách của triều đình, từng làm tham tri 04 bộ, Bố chánh, Tuần phủ ở nhiều địa phương từ bắc vào nam, từ đó ông hiểu rõ chỗ mạnh yếu của bộ máy nhà nước, thấu hiểu hoàn cảnh của nhân dân. Về quân sự ông là người trong phe chủ chiến, người trợ giúp đắc lực sát cánh cùng Thống tướng Nguyễn Tri Phương và Bình tây Đại nguyên soái Trương Định , góp phần tích cực, lập nhiều chiến công, là người chiến sĩ tiên phong trong thời kỳ đầu chống thực dân pháp ở thế kỷ 19, mãi mãi được lịch sử lưu truyền. Di tích đình Phương Điếm và lăng mộ Đỗ Quang được xếp hạng di tích Quốc gia, tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Dương đều có đường mang tên Đỗ Quang, một người con ưu tú của quê hương đất nước.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Đỗ Quang dài 700m, rộng 6m, nối bờ phía nam hồ Thạc Gián (khu dân cư C.8) đến đoạn cuối đường Lê Đình Lý.
Cổng TTĐT thành phố
Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829)
Ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Niên biểu Phan Châu Trinh (1872-1924)
Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tông Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trong một gia đình nông hào, gốc Nho học.
Hoàng Dư Khương (1911 - 1983)
Ông Hoàng Dư Khương là một cán bộ cách mạng cương trực, giàu nghị lực, kiên định, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong gầy dựng phong trào cách mạng.


Chưa có bình luận ý kiến bài viết!