Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026)

Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Cổng thông tin điện tử thành phố giới thiệu giá trị, ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khẳng định tính đúng đắn, sáng suốt của đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 I. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ trở nên giàu có và hùng mạnh nhất thế giới tư bản, đứng ra giữ vai trò giám sát, can thiệp vào các vấn đề quốc tế để bảo vệ cho cả hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã bị suy yếu nghiêm trọng và lâm vào khủng hoảng trước sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của hệ thống xã hội chủ nghĩa với trụ cột là Liên Xô, Trung Quốc.

Với vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á và trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam có ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đế quốc Mỹ coi Việt Nam là điểm nóng, có vị trí sống còn trong chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, nên đã sớm can thiệp vào chiến tranh Đông Dương từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX. Mỹ vừa hỗ trợ Pháp, vừa âm mưu thay thế Pháp để độc chiếm Đông Dương. Sau thất bại của Pháp, Mỹ vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lập khối quân sự Đông Nam Á, hất cẳng Pháp, xâm chiếm miền Nam nhằm đánh bại cách mạng Việt Nam và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở khu vực và trên thế giới.

Về phía ta, mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc là nguyện vọng thiêng liêng và là mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam. Ngày 14/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Từ đó, Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thiết lập quan hệ ngoại giao, ủng hộ và viện trợ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của Nhân dân ta.

Với thắng lợi trong các chiến dịch, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến sự, rút quân khỏi Việt Nam và công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Tuy nhiên, do bối cảnh quốc tế, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền tại vĩ tuyến 17, miền Nam tiếp tục chịu sự thống trị của đế quốc Mỹ. Trước chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, quyết tâm đấu tranh chống đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu thống nhất Tổ quốc, Nam - Bắc sum họp một nhà.

II. CÁC GIAI ĐOẠN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC

1. Giai đoạn từ tháng 7/1954 đến hết năm 1960:

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, hai miền tiến hành ngừng bắn, tập kết, chuyển quân và sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ, thực dân Pháp và chính quyền Ngô Đình Diệm đã tìm mọi cách phá hoại Hiệp định, tiến hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, khủng bố phong trào yêu nước, ban hành Luật 10/59, làm cho cách mạng miền Nam gặp nhiều tổn thất nặng nề.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bố trí cán bộ ở lại miền Nam lãnh đạo phong trào, đồng thời đưa lực lượng ra miền Bắc học tập, chuẩn bị cho sự nghiệp lâu dài. Cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Ở miền Bắc, sau các kế hoạch khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1955–1960), miền Bắc cơ bản ổn định, từng bước phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trở thành hậu phương vững chắc cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Ở miền Nam, dù bị đàn áp ác liệt, Nhân dân vẫn kiên cường đấu tranh. Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 01/1959) xác định con đường đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dẫn đến phong trào Đồng khởi (1959–1960), làm chuyển biến mạnh mẽ cục diện cách mạng miền Nam và mở đầu thời kỳ phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

2. Giai đoạn từ năm 1961 đến giữa năm 1965:

Đầu năm 1961, Tổng thống Mỹ Kennedy chính thức triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu, tiến hành dồn dân lập “ấp chiến lược” nhằm tách lực lượng cách mạng khỏi Nhân dân.

Để đối phó với chiến lược mới của địch, ngày 31/01/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị “về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”. Ngày 15/2/1961, các tổ chức vũ trang miền Nam đã thống nhất thành “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ở miền Bắc, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, các phong trào thi đua sôi nổi “Tất cả vì miền Nam ruột thịtphát triển mạnh mẽ, góp phần xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, từng bước làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Tiêu biểu là chiến thắng Ấp Bắc (02/01/1963) và các chiến thắng Bình Giã (2/12/1964 - 3/01/1965), Ba Gia (28/5 - 20/7/1965), Đồng Xoài (11/5 - 22/7/1965)...

Ngày 05/8/1964, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân hòng ngăn chặn sự chi viện của “hậu phương lớn” miền Bắc cho “tiền tuyến lớn” miền Nam nhưng bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt. Trước những thất bại liên tiếp, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước sự thất bại hoàn toàn, buộc đế quốc Mỹ phải đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Từ đây, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới.

3. Giai đoạn từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968

Chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đế quốc Mỹ sử dụng quân đội Mỹ làm lực lượng cơ động chiến lược để tìm diệt bộ đội chủ lực ta; dùng chính quyền, quân đội ngụy Sài Gòn để bình định, kìm kẹp Nhân dân, âm mưu đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25 đến 30 tháng (từ giữa năm 1965 đến hết năm 1967); đồng thời, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Ngày 20/7/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi cả nước, Người khẳng định quyết tâm của Nhân dân ta “dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Người khẳng định “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta liên tiếp giành thắng lợi ngay từ những trận đầu, tiêu biểu như Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bàu Bàng; đồng thời đánh bại nhiều cuộc hành quân lớn của Mỹ trên các chiến trường trọng điểm. Ở miền Bắc, quân dân ta kiên cường đánh trả chiến tranh phá hoại, bảo đảm giao thông và chi viện hiệu quả cho tiền tuyến. Đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, giáng đòn quyết định làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Paris, mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm.

4. Giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1973:

Sau khi chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị phá sản, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia. Những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương trong hai năm 1970 - 1971 đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta.

Nhờ chuẩn bị lực lượng và nắm vững thời cơ, quân và dân ta liên tiếp giành thắng lợi lớn trên chiến trường, tiêu biểu là cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, làm thay đổi cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta. Trên mặt trận ngoại giao, ta thực hiện hiệu quả phương châm “vừa đánh, vừa đàm”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris năm 1973, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh khỏi miền Nam, tạo điều kiện quyết định để tiến tới giành thắng lợi cuối cùng.

5. Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến năm 1975:

Sau khi ký Hiệp định Paris, mặc dù buộc phải rút quân, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn làm công cụ chiến tranh, tăng cường viện trợ tiền của, vũ khí để lấn đất, giành dân, phá hoại Hiệp định Paris. Đến tháng 5/1973, xu thế chống phá Hiệp định Paris của quân đội ngụy Sài Gòn ngày càng tăng.

Tháng 7/1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21, khẳng định con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” và đề ra nhiệm vụ cho hai miền Nam - Bắc trong giai đoạn mới. Thắng lợi toàn Miền, nhất là của miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là chiến thắng Phước Long cuối năm 1974 - đầu năm 1975, cho thấy sự suy yếu của quân đội Sài Gòn và khả năng Mỹ khó đưa quân trở lại. Trên cơ sở đó, Đảng ta nhận định thời cơ giải phóng miền Nam đã chín muồi, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam và giành lại chủ quyền trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược cả về thế và lực, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được tiến hành từ ngày 4/3/1975 với các chiến dịch: Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá chiến lược đánh chiếm Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên; hai chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn - Gia Định với nhiều bước phát triển nhảy vọt.

- Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26/4 - 30/4/1975): sau một tháng Tổng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, quân và dân ta giành thắng lợi to lớn, làm tan rã phần lớn lực lượng quân đội Sài Gòn, buộc địch co cụm xây dựng tuyến phòng thủ cuối cùng tại Sài Gòn - Gia Định. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất. Ngày 07/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh “Thần tốc, táo bạo, tranh thủ thời gian, quyết chiến và toàn thắng”. Ngày 14/4/1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn chính thức được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta mở cuộc tổng công kích với 5 cánh quân tiến công từ các hướng, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu. Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân ta, 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, quân ta chiếm Dinh Độc Lập, chính quyền Sài Gòn đầu hàng không điều kiện, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

- Giành lại chủ quyền lãnh thổ trên các vùng biển, đảo, quần đảo phía Nam của Tổ quốc: Cùng với giải phóng trên đất liền, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh nghiên cứu thời cơ để giành lại chủ quyền các đảo, quần đảo do quân đội ngụy Sài Gòn chiếm đóng ở biển Đông. Ngày 14/4/1975, các đơn vị ta tiến công các đảo thuộc vùng biển phía Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa, và đến ngày 29/4/1975 đã giành lại chủ quyền. Từ ngày 30/4 đến đầu tháng 5/1975, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang phối hợp với quần chúng nhân dân tiếp tục tiến công, giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, vùng biển, Côn Đảo, Phú Quốc và các đảo ở vùng biển Tây Nam Tổ quốc.

III. Ý NGHĨA LỊCH SỬ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Ý nghĩa lịch sử: Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc. Thắng lợi này đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là thắng lợi có ý nghĩa quốc tế to lớn, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh vì độc lập, hòa bình và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) khẳng định thắng lợi này là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là chiến công vĩ đại của thế kỷ XX.

2. Nguyên nhân thắng lợi: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là những nguyên nhân cơ bản sau: Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối cách mạng phù hợp, sáng tạo, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của Nhân dân Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, chi viện to lớn, toàn diện cho tiền tuyến miền Nam. Sự đoàn kết chiến đấu của Nhân dân ba nước Đông Dương, cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình. Sự kết hợp sáng tạo giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh bại kẻ thù xâm lược.

3. Bài học kinh nghiệm lịch sử: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, trong đó nổi bật là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chủ động nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời các tình huống phát sinh. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

IV. THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN 51 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Sau khi đất nước thống nhất, nước ta phải đối mặt với những hậu quả nặng nề của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, đời sống Nhân dân hết sức khó khăn. Đặc biệt, nước ta còn phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, ý chí kiên cường của dân tộc; đặc biệt sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Về chính trị: Đất nước giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện; hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh; mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân ngày càng gắn bó chặt chẽ. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt nhiều kết quả nổi bật, có bước tiến quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

2. Về kinh tế: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng phát triển; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng nhanh. Giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao.

3. Về văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh, từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt khoảng 95,2% năm 2025; tuổi thọ trung bình của người dân đạt 74,8 năm. Đã triển khai chương trình xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội và hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước vào năm 2025. Giáo dục và đào tạo được đổi mới căn bản, toàn diện; chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao; chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021.

4. Về quốc phòng, an ninh: Được tăng cường vững chắc; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững. Nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ngày càng được củng cố; Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Công tác bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được chú trọng; chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.

5. Về đối ngoại và hội nhập quốc tế: Được triển khai đồng bộ, toàn diện, đạt nhiều kết quả nổi bật, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, đi vào chiều sâu; Việt Nam tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.

V. PHÁT HUY TINH THẦN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường phấn đấu xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời nhận thức sâu sắc hơn giá trị, những bài học kinh nghiệm được tổng kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, biến những thành tựu vẻ vang trong quá khứ thành động lực để hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.

Một là, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; gắn kết chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hai là, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, phát triển đất nước nhanh và bền vững; triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa và con người là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu; phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, hoàn thiện thể chế phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; phát huy hiệu quả các thành phần kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Bốn là, tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Năm là, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, tăng cường quản lý thống nhất của Nhà nước; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; củng cố quốc phòng, an ninh, chủ động bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Sáu là, giữ vững độc lập, tự chủ; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia tích cực vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tin tức - sự kiện

Chưa có bình luận ý kiến bài viết!

Hiệu quả tín dụng chính sách từ cơ sở

Từ những khoản vay ưu đãi, tín dụng chính sách đang từng bước tạo sinh kế bền vững, mở ra cơ hội vươn lên, góp phần nâng cao đời sống và phát triển kinh tế người dân.

“Cởi trói” cho du lịch Cù Lao Chàm

Dù sở hữu nhiều lợi thế về tài nguyên, du lịch Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp) vẫn chưa thể bứt phá khi các điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng và tổ chức vận hành chưa được xử lý dứt điểm.

Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng làm việc với Tập đoàn THACO

Chiều 20-4, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc với Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Hải (Tập đoàn THACO), thảo luận các định hướng đầu tư phát triển Sâm Ngọc Linh và dược liệu.

Phân loại 94 đơn vị hành chính cấp xã

UBND thành phố ban hành Quyết định số 1827/QĐ-UBND ngày 24-4 về phân loại đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn. Theo đó, 94 xã, phường và đặc khu được phân thành 3 loại đơn vị hành chính.

Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng làm việc với các phường khu vực Tam Kỳ

Chiều 16-4, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc với các phường Tam Kỳ, Bàn Thạch, Hương Trà, Quảng Phú về tình hình kinh tế-xã hội. Cùng dự có Phó Chủ tịch HĐND thành phố Trần Xuân Vinh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Phan Thái Bình, Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng và lãnh đạo các sở, ban, ngành.

Xuất bản thông tin

Navigation Menu

Navigation Menu

LIÊN KẾT WEBSITE

Navigation Menu

Navigation Menu

Navigation Menu